Có thể khởi kiện vụ án “Cải cách Tiếng Việt”

SỰ THẤT BẠI HOÀN TOÀN CỦA VIỆC KÝ ÂM

Với một ví dụ đơn giản như dưới đây, nó cho chúng ta thấy sự bất lực của chữ viết và việc ký âm trở nên vô nghĩa đối với bất cứ nhà giá dục nào.

Và với lối giáo dục chữ viết bằng cách phát âm mới theo sách Công nghệ giáo dục đang được bàn tán, nó sẽ cho ta thấy sự thất bại hoàn toàn của việc giáo dục ngôn ngữ trước rất nhiều văn phạm và những ngôn từ của cuộc sống.

Với một giờ học chính tả trên lớp, việc ký âm để chuyển âm sang chữ viết đã trở nên bế tắc và hoàn toàn vô dụng. Chúng ta chỉ có thể nghe mà không thể hiểu về sự việc, sự kiện hay nội dung của nó. Đó chính là sự thât bại quan trọng nhất của cách giáo dục phát âm dựa vào việc ký âm không dựa trên chuẩn chính ta của chữ viết để nhận diện ngôn ngữ.

Và tất cả chúng ta, không loại trừ bất cứ một ai, đều trở nên là một kẻ mù chữ.

Và nếu phải ra toà trong một vụ kiện. Tôi sẽ sử dụng văn phạm dưới đây để kiểm tra và tấn công vào bất cứ luận điểm nào mà bảo vệ cho cách dạy chữ viết theo lối ký âm quái dị và sai lạc trầm trọng này.

GIỜ KIỂM TRA TIẾNG VIỆT

Các em (lớp 1) nghe đoạn văn sau và chép lại sao cho đúng chính tả:

Dì Rì đang làm gì, mà Dì Rì cái gi gỉ gì gi cái gì Dì Rì cũng làm thì mới là Dì Rì, nhưng Dì Rì gì thì gì chứ Dì Rì không ra gì cũng chẳng ra Dì?

Dì Dun run như giun giao dao của Dao người Dao cho tôi rửa. Dì Giang dang tay ra rang ngô.

Hỏi Quốc có yêu tổ cuốc không. Nó bảo nó yêu tổ quốc chứ không phải tổ cuốc. Nhiều khi nó nói tổ quốc mà người ta cứ nghĩ là tổ cuốc. Vì tổ cuốc khác hẳn tổ quốc.

Dì Của và Dì Cả ăn quả của cả tao và mày. Giá mà giá lên giá vào mùa giá đang giá, và mình không mất rá giá.

CCTV

Ông Chần Trọng Trâu tuổi trâu có con tên là Chần Chọng Châu thích ăn châu chấu vùi trong trấu.

Cho đến khi ra tro, cái Tro đưa tro cho tôi để tôi cho tro cái Cho.

Dì không phải Gì mà cũng không phải là Rì. Và đương nhiên Rì không là Gì mà cũng chẳng phải là Dì. Và Gì với Dì và Rì có thể không tương ứng là Rì với Gì và Dì. Nói chung ba cái Gì, Rì và Dì này là khác nhau.

Viết chữ Cờ chứ không yêu cầu viết chữ Cờ (Q) hay Cờ (K) và cũng không phải Cờ (C). Nếu viết Cờ là Cờ hoặc Cờ hay Cờ thì sẽ không đúng đáp án chữ Cờ. Vì thế viết Đường Kách Mệnh chứ không phải Đường Cách Mệnh. Và do đó, tại sao không dùng Cờ (Q) như Cờ (C) và Cờ (K). Nay có thể viết: Qách hay Qích như Cách và Kích.

CCTV 2

CÓ THỂ KHỞI KIỆN

Tôi cần ít nhất một phụ huynh có con đang học lớp 1 cùng 3 người là nhà giáo hoặc tiến sỹ, giáo sư ngôn ngữ học để khởi kiện vụ án dân sự liên quan đến giáo dục này để huỷ bỏ nội dung đang được giảng dạy là sách Giáo dục công nghệ với cách phát âm sai bản chất của ngôn ngữ đang được thừa nhận bởi Hiến pháp và Bộ luật Dân sự cũng như Luật Giáo dục.

Các Hội Bảo vệ quyền lợi trẻ em, Hội đồng Quốc gia giáo dục hoặc Ban đại diện phụ huynh học sinh (bất cứ tỉnh, thành nào trên cả nước) có thể đứng lên khởi kiện ra toà án để bảo vệ quyền lợi chính đáng và hợp pháp của các thế hệ học sinh đang phải thử nghiệm áp dụng chương trình dạy học phản khoa học như đang thấy.

CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ KHỞI KIỆN VỀ VẤN ĐỀ CẢI CÁCH TIẾNG VIỆT

Căn cứ pháp lý để khởi kiện chương trình giáo dục Tiếng Việt Công nghệ lớp 1 đang được áp dụng trong hệ thống giáo dục hiện nay:

Điều 5.3 Hiến pháp 2013: Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt.

Điều 7 Luật Giáo dục 2005 (sửa đổi 2009): Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức dùng trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác.

Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015: Ngôn ngữ trong văn bản quy phạm pháp luật là tiếng Việt. Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu.

Điều 18 Nghị quyết số 351/2017/UBTVQH14:
1. Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản là tiếng Việt; cách diễn đạt phải chính xác, rõ ràng, dễ hiểu.

5. Từ ngữ được sử dụng trong văn bản phải thể hiện chính xác nội dung cần truyền đạt, không làm phát sinh nhiều cách hiểu; trường hợp từ ngữ được sử dụng có thể hiểu theo nhiều nghĩa thì phải giải thích rõ nghĩa được sử dụng trong văn bản.

Điều 18, Điều 19 và Điều 20 Thông tư số 25/2011/TT-BTP về kỹ thuật trình bày văn bản của Bộ Tư pháp:
Điều 18: Sử dụng ngôn ngữ trong văn bản
1. Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản là tiếng Việt; từ ngữ được sử dụng phải là từ ngữ phổ thông.
2. Không dùng từ ngữ địa phương, từ ngữ cổ và từ ngữ thông tục; không sử dụng từ ngữ nước ngoài.
Trong trường hợp cần phải sử dụng từ ngữ nước ngoài do không có tiếng Việt thay thế, thì có thể sử dụng trực tiếp tiếng nước ngoài đó nếu là ngôn ngữ thông dụng, phổ biến hoặc phải phiên âm tiếng nước ngoài sang tiếng Việt.
Điều 19. Sử dụng từ ngữ đúng chức năng
1. Văn bản phải sử dụng ngôn ngữ viết; cách diễn đạt phải rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu.
2. Trong văn bản có thuật ngữ chuyên môn cần phải làm rõ nội dung thì thuật ngữ đó phải được giải thích.
3. Từ ngữ viết tắt chỉ được sử dụng trong trường hợp cần thiết và phải giảithích nội dung của từ ngữ đó tại lần xuất hiện đầu tiêntrong văn bản.
Đối với văn bản sử dụng nhiều từ viết tắt, cần quy định riêng một điều giải thích toàn bộ các từ viết tắt trong văn bản.
Điều 20. Sử dụng từ ngữ đúng nghĩa
1. Từ ngữ được sử dụng trong văn bản phải thể hiện chính xác nội dung cần truyền đạt, không làm phát sinh nhiều cách hiểu; trường hợp dùng từ có thể hiểu theo nhiều nghĩa thì phải giải thích theo nghĩa được sử dụng trong văn bản.
2. Từ nghi vấn, các biện pháp tu từ không sử dụng trong văn bản.
3. Từ ngữ phải được sử dụng thống nhất trong văn bản.

Căn cứ Quyết định số 240/QĐ của Bộ Giáo dục năm 1984:
Tại mục A, tiểu mục 1.b phần Nguyên tắc chung quy định:
A – NGUYÊN TẮC CHUNG
1. Đối với những từ tiếng Việt mà hiện nay chuẩn chính tả chưa rõ, nên chọn giải pháp chuẩn hoá theo nguyên tắc chung sau đây:
b) Khi chuẩn chính tả đã được xác định, phải nghiêm túc tuân theo; tuy việc chuẩn hóa và thống nhất phát âm chưa đặt thành yêu cầu cao nhưng cũng nên dựa vào chuẩn chính tả mà phát âm.
Tại mục B. QUY ĐỊNH CỤ THỂ:
1. Về những từ tiếng Việt mà chuẩn chính tả hiện nay chưa rõ, có thể nhận thấy những trường hợp chủ yếu sau đây, và đối với mỗi trường hợp, nên dùng tiêu chí thích hợp. Cụ thể là:
a) Dùng tiêu chí thói quen phát âm của đa số người trong xã hội, mặc dù thói quen này khác với từ nguyên (gốc Việt hay gốc Hán).
Thí dụ: chỏng gọng (tuy là chổng gọng theo từ nguyên)
đại bàng (tuy là đại bằng theo từ nguyên)
b) Dùng tiêu chí từ nguyên khi thói quen phát âm chưa làm rõ một hình thức ngữ âm ổn định.
Thí dụ: trí mạng (tuy cũng có gặp hình thức phát âm chí mạng)
c) Khi trong thực tế đang tồn tại hai hình thức chính tả mà chưa xác định được một chuẩn duy nhất, thì có thể tạm thời chấp nhận cả hai hình thức ấy, cho đến khi nào thói quen sử dụng nghiêng hẳn về một hình thức.
Thí dụ: eo sèo và eo xèo; hoặc: sứ mạng và sứ mệnh.
Trong khi chờ đợi có từ điển chính tả, tạm dùng cuốn “Từ điển chính tả phổ thông” do Viện văn học xuất bản năm 1963.

Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định tiếng nói và chữ viết trong tố tụng dân sự là tiếng Việt.

Luật Kế toán, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Công chứng, Luật Bảo vệ người tiêu dùng, Luật Bưu chính,…đều quy định ngôn ngữ được sử dụng là tiếng Việt.

Luật Điều ước quốc tế 2016 quy định:
Điều 5. Ngôn ngữ, hình thức của điều ước quốc tế
1. Điều ước quốc tế hai bên phải có văn bản bằng tiếng Việt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với bên ký kết nước ngoài.

Căn cứ Tiêu chuẩn quốc tế hoá tiếng Việt: tiêu chuẩn ISO 639-1 (mã hai chữ cái – vi) và tiêu chuẩn ISO 639-2 (mã ba chữ cái – vie).

Căn cứ Điều 29.3 Luật Giáo dục 2005 (sửa đổi 2009)
3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục phổ thông; duyệt và quyết định chọn sách giáo khoa để sử dụng chính thức, ổn định, thống nhất trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông, bao gồm cả sách giáo khoa bằng chữ nổi, bằng tiếng dân tộc và sách giáo khoa cho học sinh trường chuyên biệt, trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa;

Căn cứ Điều 3, Điều 8, Điều 28, Điều 37, Điều 119 Hiến Pháp năm 2013 về quyền và nghĩa vụ của công dân.

Căn cứ Điều 6 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015:
Điều 6. Tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật
2. Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo và cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật.

Với tất cả các căn cứ pháp lý nêu trên, mọi công dân có quyền và nghĩa vụ khiếu nại, kiến nghị tới các cơ quan nhà nước về vấn đề bảo vệ chữ viết Tiếng Việt (là ngôn ngữ quốc gia) và bất cứ cá nhân, tổ chức nào có người thân đang là đối tượng của chính sách áp dụng sách Giáo dục công nghệ lớp 1 đều có quyền khởi kiện các cơ sở đào tạo đối với tiếng Việt cải cách này ra Toà án để yêu cầu bồi thường thiệt hại và huỷ bỏ việc áp dụng chương trình này trong hệ thống giáo dục hiện hành (và Bộ Giáo dục và đào tạo là người liên quan trong vụ án).

LS Lê Luân 

P/S: Tựa bài do Hội SVNQ đặt.

Advertisements

3 comments

  1. Tôi ủng hộ,học phải đi đôi với hành,cải cách tiếng việt xa vời thực tế ,cải cách để làm gì, cải cách để dễ học,dễ hiểu đẻ đi vào thực tế,đằng này học một đằng nói một kiểu, người lớn còn không khó huống gì trẻ con, các ông ăn không ngồi đó đòi hỏi quá nhiều ở trẻ nhỏ,…..

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s